Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ “Tràng Giang” của nhà thơ Huy Cận

Thu Thảo / December 10, 2018

Em hãy phân tích bài thơ “Tràng Giang” của nhà thơ Huy Cận

Bài làm

Thi sĩ Huy Cận đã được biết đến với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Trước Cách mạng tháng Tám, dường như thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên. Có thể nói vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ “Tràng Giang”. Đây được xem là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám. Thi phẩm đã được trích từ tập “Lửa thiêng”, được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước mà dường như lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại và chính điều này đã mang lại sự hấp dẫn cho người đọc

Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài

Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp

….

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Bài thơ ngay từ nhan đề thôi mà dường như nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. “Tràng giang” được tác giả dùng nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Chính việc dùng hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ độc đáo “tràng giang” được sử dụng rất đắt và mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ ca Đường thi thuở nào, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.

Dường như tứ thơ “Tràng giang” mang nét cổ điển như thơ xư nhừ là nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước và không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Và dường như nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm. Huy cận dường như cũng đã lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại mới mẻ.

Câu đề từ của thi phẩm rất giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài”. Trước cảnh “trời rộng”, và cảnh “sông dài” sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm “bâng khuâng” và nhớ. Và với từ láy “bâng khuâng” được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình ở đây đó là rất buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và chính con “sông dài”, nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi không thôi trong lòng nhà thơ dường như đã có thể làm rung động trái tim người đọc.

Và ngay từ khổ thơ đầu tiên thôi thì người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng…

Có thể nói vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Có thể nói hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy không thôi mà dường như nó còn như đã đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào và nó cứ như trôi miên manvậy. Trên dòng sông mênh mang kia như gợi sóng “điệp điệp”, nước “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, lững lờ trôi đi. Và trong cảnh như lại có sự chuyển động là thế, mà sao lòng ta, tâm trạng ta như chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng “tràng giang” dài và rộng bao la không biết đến nhường nào.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)

Dòng sông lúc này thì rất bát ngát, thì mông mông vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thuyền và nước như ta đã biết là vốn luôn luôn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận dường như đã lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về nước lại”, nghe sao đầy xót xa. Chính có lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng của mỗi người nỗi “sầu trăm ngả”. Và sử dụng từ chỉ số nhiều “trăm” hô ứng cùng từ chỉ số “mấy” đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn.

Có thể nói tâm hồn của chủ thể trữ tình của thi phẩm ở đây dường như được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: “Củi một càng khô lạc mấy dòng”. Huy Cận dường như ông cũng đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, như đã thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. Và từ “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, “cành khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống mất rồi, “lạc” lại như mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên “mấy dòng” nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Và dường như những cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp và dường như đã khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi.

Có thể nói rằng chính nét đẹp cổ điển “tả cảnh ngụ tình” thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn như vẫn còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại và để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta dường như cũng đã nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói “Củi một cành khô” thật đặc biệt, nó như đã không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện ở đây chính là một nỗi niềm đơn côi, lạc long vô định biết bao.

Nỗi lòng ấy dường như cũng đã được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hai từ láy được sử dụng rất đặc sắc là “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. Từ láy “Lơ thơ” như đã gợi liên tưởng về sự ít ỏi, bé nhỏ “đìu hiu” lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh “cồn nhỏ” và có cả gió thì “đìu hiu”. Đây có thể nói rằng là một khung cảnh hết sức lạnh lẽo, tiêu điều ấy đã làm cho con người ta như cảm thấy trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên một cách thoảng thốt “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Khi dùng chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, và những âm thanh đó lại không hề rõ rệt. Có thể nói là câu hỏi “đâu” như một nỗi niềm khao khát đến mãnh liệt đó chính là nỗi mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đâu đó nó cũng như có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên rộng lớn kia mang lại cho lòng chúng ta.

Xem thêm:  Soạn văn bài: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh
Loading...

Dường như đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

“Nắng xuống, trời lên” là một ý thơ như đã gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa. Có lẽ chính bởi vì có nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. “sâu chót vót” là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận như đã và đang mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ Huy Cận lúc này đây như không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ mênh mông kia. Và dường như chính cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với “sông dài, trời rộng”, còn có những điều gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: “bến cô liêu”.

Có thẻ nói chính vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi quen thuộc như là hình ảnh của:sông, trời, nắng, và dường như cuộc sống của con người nơi đây lại như buồn tẻ, chán chường với cảnh “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia lìa.

Nhà thơ lại như đã nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên ở đây dường như đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cần gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Ta có thể thấy rằng chính hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, một cái gì đó nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng thật khác, trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà đó là sự”hàng nối hàng”. Ta có thể cảm nhận được bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên. Và để rồi từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn hơn biết bao nhiêu. Và dường như bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng” như mở ra một không gian bao la đến vô tận. Dường như thiên nhiên cứ như đã nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Tác giả Huy Cận đã thật tinh tế vì đã đưa ra cấu trúc phủ định. “…không…không” để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ lúc này đây không còn có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm như đã và đang vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang được coi là một phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

Huy Cận lại khéo vẽ đến thật tài tình nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Bằng với việc sử dụng bút pháp chấm phá với “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào và các dãy núi như được dát bạc. Và chính những hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ năm nào

Xem thêm:  Suy nghĩ về vấn đề nhân sinh được đặt ra trong câu văn: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…”

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Huy Cận dường như cũng đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, chính điều này như khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng được xem như là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.

Và có lẽ ở đây không gì khách mà chính những nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm câu được đặt tuy nhỏ này nhưng lại gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều “Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều” như đã cùng sa xuống mặt của tràng giang. Hay là chính bóng chiều sa như đã đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi không ai biết chính xác. Câu thơ như đã đặc tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng “cánh chim” và “bóng chiều”, vốn được xem là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

Dường như những giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

“Dợn dợn” là một tư láy rất đặc biệt, có thể nói đây chính là sự sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Với từ láy nàydường như đã hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Dường như chính những nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây có thể nói rằng đó chính là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bâdy giờ, và đó là một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.

Và dường như bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” của Thôi Hiệu. Xưa đã có một nhà thơ Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh tác động vào. Và bởi có lẽ từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắm rồi. Thế như ta mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay.

Cả thi phẩm này dường như vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển đã được xây dựng lên qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên. Và bằng chính qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim… Và trên hết là nhà thơ Huy Cận đã cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ có được một không khí cổ kính và sự trầm mặc của thơ Đường.

Có thể nói chính vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như “sâu chót vót”, dấu hai chấm thần tình đã làm được điều đó. Dường như những vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi mà đã đứng giữa quê hương. Và chính nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì hơn được như vậy

Bài thơ “Tràng giang” sẽ còn mãi mãi đi sâu vào lòng người với một phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương tha thiết.

Đánh giá bài viết